NHỮNG THUẬT NGỮ TRONG TRANH BIỆN

Đích đến của tranh biện không nằm ở việc thắng – thua mà là việc nâng cao kĩ năng và kiến thức của người tham gia. Điều đầu tiên các học sinh cần nắm được khi học tranh biện chính là hiểu rõ những thuẩ ngữ trong tranh biện.

  • Adjudicator: giám khảo chấm một trận tranh biện
  • Affirmative: đội thuộc phe ủng hộ kiến nghị
  • Break: vào được vòng đấu loại trực tiếp của cuộc thi dưới hình thức người nói hoặc giám khảo
  • Case: hệ thống luận điểm của một đội
  • Clash: mâu thuẫn chính cần giải quyết và so sánh của hai đội trong một trận đấu. Thường thì clash sẽ được nêu lại bởi người nói thứ 3 của cả 2 bên khi tổng hợp lại trận đấu.
  • Definition: định nghĩa của những cụm từ quan trọng trong một kiến nghị để giới hạn trận tranh biện. Đây là điều rất quan trọng mà bên ủng hộ cần đưa ra để cả hai đội có thể tranh biện với nhau trên cùng một vấn đề.
  • Draw: là lúc thông tin về phe của các đội, giám khảo chấm trận đấu và kiến nghị được đưa ra.
  • Iron man: là khi một người trong một đội nói cả hai lượt thay cho một thành viên khác khi thành viên đó không thể có mặt. Đây chỉ là giải pháp khẩn cấp khi thiếu thành viên.
  • Layers: là những lớp luận điểm nhỏ hơn để củng cố cho luận điểm chính.
  • Margin: Điểm thể hiện kết quả của trận tranh biện giữa đội thắng và thua, được các giám khảo kết luận dựa trên thang điểm từ 1 – 12:

    • Từ 1 – 4: trận tranh biện với kết quả chiến thắng rất suýt sao và chênh lệch giữa 2 đội rất ít
    • Từ 5 – 9: trận tranh biện với kết quả chiến thắng dễ nhìn nhận và đội chiến thắng thể hiện được lợi thế rõ ràng
    • Từ 10 – 12: trận tranh biện với kết quả chiến thắng vô cùng hiển nhiên nghiêng về một đội
      (Không chấp nhận số điểm dưới 1 và trên 12
  • Mechanism: cơ cấu là thứ cần thiết trong một trận tranh biện với kiến nghị dạng chính sách. Nó chính là thứ mà phía ủng hộ (chính phủ) cần xây dựng nên để thực hiện hóa chính sách của mình.
  • Motion: Kiến nghị là vấn đề được đưa ra để 2 đội Ủng hộ và Phản đối dùng những luận điểm và phản biện chứng minh được sự thuyết phục của phe mình. Đó có thể là một nhận định hoặc một đề xuất. Một kiến nghị cần phải đảm bảo được một số tiêu chí sau: tính công bằng cho 2 đội Ủng hộ và Phản đối (tính “Tranh biện được” của kiến nghị), từ khóa, đối tượng, phạm vi và thái độ.
  • One-liner: là khi một người chỉ đưa ra một luận điểm mà không đưa ra bất kì giải thích nào cho câu nói trên hay một dẫn chứng mà không nói thêm bất kì điều gì để liên kết nó lại với lập luận của mình.
  • Point of Information (POI): Câu hỏi nhằm làm rõ, bình luận hoặc ý phản biện dành cho người đang trình bày của đội đối phương. Thời gian đặt tối đa là 15s, lưu ý POI không được cho phép trong phút đầu tiên và cuối cùng của lượt nói. Về hình thức: thành viên đặt POI bằng cách đứng dậy và ra hiệu đặt POI bằng tay hoặc lời nói để gây sự chú ý. Người đang nói có thể từ chối POI bằng cách phất tay ra hiệu từ chối hoặc nói “Không nhận ” hoặc chấp nhận POI bằng lời nói. Để tăng tính tương tác trong trận tranh biện, người nói nên nhận 1 hoặc 2 POI.
  • Protected time: Phút đầu tiên và phút cuối cùng của một lượt nói, đội đối phương không được đặt POI trong khoảng thời gian này.
  • Rebuttal: Ý phản biện, thường được trình bày trong lượt nói của người thứ nhất, thứ hai, thứ ba đội Phản đối và người thứ hai, thứ ba đội Ủng hộ. Ý phản biện là khi ta dựa vào ý của đội đối phương và đưa ra những cách lập luận, dẫn chứng tỏ được những ý trong luận điểm của đối phương là sai và thiếu sót.
  • Silent Round: là vòng mà kết quả trận đấu sẽ được giữ kín. Thường là trận trước khi công bố kết quả break vào tứ kết
  • Squirrel: Một lỗi khi nêu định nghĩa mà không thể hiện được liên kết chặt chẽ, rõ ràng và hợp lý với kiến nghị, cũng như lệch khỏi tính khách quan ban đầu của kiến nghị.
    VD: đối với kiến nghị “Chúng tôi sẽ cấm cá cược”, bạn sẽ bị lỗi squirrel nếu nói rằng “Lái xe hơi tốc độ nhanh là cá cược với cái chết. Chúng tôi sẽ cấm phương tiện xe hơi chạy nhanh hơn 40mph.”
  • Stakeholder: Những người mà kết quả của kiến nghị sẽ ảnh hưởng đến. Thường thì đội đưa ra được nhiều lợi ích cho nhiều stakeholder hơn thì sẽ có lợi thế hơn. Nhưng đối với kiến nghị dạng đóng vai (TH, as…,) thì việc tạo được nhiều lợi ích cho nhân vật đang đóng vai là điều quan trọng nhất.
  • Swing Team: Là đội thay thế được thêm vào (thường là bởi ban tổ chức) để đủ số lượng đội (2 hoặc 4 đội trong một trận) đấu khi đội chính thức không thể tham dự.